Ths.Bs. Đinh Công Phúc
Ung thư da (không kể ung thư tê bào sắc tố, ung thư biểu mô
liên kết) thông thường gồm hai loại [2]: Ung thư biểu mô tế bào đáy
(UTTBĐ) (basal cell carcinoma: BCC) và ung thư tế bào gai hay còn gọi là tế bào
vảy (Squamous cell carcinoma: SCC). Ung thư da hay gặp ở vùng gần xích đạo, nơi
có nhều ánh nắng mặt trời và bức xạ cực tím lớn nhất. Tỉ lệ hay gặp ở người da
trắng là 200/100.000 dân, người da màu thì ít gặp hơn với tỉ lệ là10/100.000
dân. Người da vàng thì tỉ lệ mắc ở mức trung bình.
Ung thư tế bào đáy là loại ung thư xuất phát từ lớp tế bào
đáy của thượng bì và phần ngoài của nang lông, hầu như không di căn, chỉ xâm
lấn tại chỗ [2 ,8,10]. Khoảng 75% xảy ra ở những
vùng da hở (tiếp xúc thường xuyên với ánh nắng) như: vùng mũi, thái dương, trán
vùng quanh mắt, má, quanh môi. Hình thái tổn thương chủ yếu khu trú ở da gây
loét da, giai đoạn muộn loét xâm lấn sâu vào tổ chức dưới da.
Tổn thương do UTTBĐ ở vùng mặt đã ảnh hưởng đến chức năng
sinh lý bảo vệ, ảnh hưởng đến cấu trúc giải phẫu, ảnh hưởng đến nhu cầu thẩm mỹ
và quan hệ xã hội của bệnh nhân, tác động nặng nề đến tâm lý bản thân người
bệnh cũng như người thân của họ. Điều trị các tổn thương này có nhiều cách như:
dùng thuốc tại chỗ, dùng laser, đốt điện, đốt plasma, nhìn chung đều có tỉ lệ
tái phát cao và không mang lại thẩm mỹ. Phương pháp phẫu thuật tạo hình bằng
vạt da tại chỗ cho các khuyết hổng phần mềm sau cắt bỏ UTTBĐ đã góp phần quan
trọng vào việc phục hồi chức năng sinh lý, cấu trúc giải phẫu, nhu cầu thẩm mỹ
và tâm lý của bệnh nhân.
Trên thế giới, phẫu thuật tạo hình để tái tạo các khuyết
hổng phần mềm do chấn thương đã thực hiện vào đầu thế kỷ XX. Đến đầu những năm
60 mới có sự phát triển nhanh chóng với
nhiều phương pháp phẫu thuật dùng vạt da tại chỗ sau các khuyết hổng phần mềm
vùng mặt đã ra đời và được áp dụng ngày càng tốt hơn, đặc biệt đã áp dụng để
tạo hình sau cắt bỏ tổ chức ung thư da.
Ở Việt Nam điều trị các tổn thương phần mềm do UTTBĐ đã được
sử dụng nhiều ở các chuyên khoa khác nhau như chuyên khoa phẫu thuật tạo hình,
ung thư và răng hàm mặt. Tuy nhiên để hiểu biết thêm về đặc điểm ung thư da,
tiểu cấu trúc giải phẫu thẩm mỹ, tính đa dạng của các tổn khuyết phần mềm vùng
mặt và các chất liệu tạo hình để che phủ các khuyết hổng này thì trong chuyên
ngành da liễu vẫn chưa được áp dụng. Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm
mục tiêu sau:
1. Mô tả các hình thái tổn khuyết phần mềm
sau phẫu thuật cắt bỏ UTTBĐ, tại Bệnh viện Phong-Da liễu TW Quy Hoà, năm 2006
đến 2007.
2. Đánh giá kết quả điều trị UTTBĐ vùng mặt
bằng các vạt da tại chỗ.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương
pháp nghiên cứu
2.1.1.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả lâm sàng cắt ngang
2.1.2. Quy trình kỹ thuật
2.2.2.1. Thiết kế vạt da
Tuỳ thuộc vào vị trí, tính chất và hình thái của tổ chức ung
thư mà chúng tôi thiết kế vạt sao cho phù hợp. Các vạt
được thiết kế là vạt xê dịch, vạt chữ u, vạt V-Y, vạt xoay, vạt Imre.
2.2.2.2. Tiền mê và gây tê tại chỗ.
Bệnh nhân nằm ngửa, tiền mê toàn thân bằng seduxen. Sau khoảng 10 phút tiếp tục gây tê tại chỗ bằng lidocain 2% + adrenalin.
Gây tê xung quanh vị trí tổn thương, gây tê nơi cần lấy da để làm chất liệu tạo
hình.
2.2.2.3. Quy trình phẫu thuật
2.2.2.3.1. Phẫu
thuật tại nơi tổ chức ung thư
Cắt quanh bờ tổn thương, cách bờ
khoảng 0,5-1cm. Cầm máu kỹ bằng dao điện.
Vì chúng tôi chưa triển khai
được phương pháp Mohs nên chúng tôi cố gắng phẫu thuật sạch tổ chức ung thư,
cắt tổ chức ung thư thành một khối, không xâm phạm vào vị trí ung thư tránh
rơi vãi tế bào ung thư ra tổ chức
lành.
|
Hình 1. Cắt quanh khối ung thư
hình elipe
|
2.2.2.3.2. Phẫu thuật nơi vạt
Rạch quanh vạt da đã thiết kế sẵn, bóc
tách nhất vạt da rộng khỏi nơi cho vạt.
Cầm máu bằng dao điện. Xoay vạt da đã bóc tách tới vị trí
tổn khuyết.
Tuỳ vào vị trí tổn khuyết mà có kỹ thuật tạo hình bằng các
vạt da tại chỗ như: vạt xoay, vạt V->Y, vạt chữ H, chữ U, vạt Imre
Khâu phủ lên vị tổn thương. Trước khi
khâu phủ nên ướm thử vạt da đã đủ chưa.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG
3.1.1. Phân bố
theo nhóm tuổi
Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm
tuổi
Nhóm tuổi
|
Số bệnh nhân
|
Tỉ lệ %
|
40->50
|
2
|
7,7%
|
50->60
|
6
|
17,1%
|
60->70
|
4
|
11,4%
|
70->80
|
19
|
52,4%
|
>80
|
4
|
11,4%
|
Tổng cộng
|
35
|
100%
|
Theo tác giả Lê Tấn Hùng [3], Bệnh
viện K Hà Nội (2000), đã đánh giá 105 trường hợp bị ung thư da vùng đầu mặt cổ
được phẫu thuật theo phương pháp tạo hình quay vạt da có chân nuôi và phương
pháp vá da rời thì gặp độ tuổi từ 20->29 là 2 trường hợp, và còn hầu hết là
bệnh nhân trên 70 tuổi.
Như vậy, bệnh nhân trong nhóm nghiên
cứu của chúng tôi bị ung thư tế bào đáy có độ tuổi thấp nhất lớn hơn các tác
giả khác. Điều này cũng phù hợp với khu bệnh nhân tại khu vực Miền trung-Tây
nguyên là hầu hết bệnh nhân nghèo ít quan tâm đến sức khoẻ đến khám và điều trị
muộn hơn. Độ tuổi trên 70 tuổi thì nghiên cứu của chứng tôi cũng phù hợp với
các tác giả khác.
3.1.2. Nghề
nghiệp
Bảng 3.2. Phân bố theo nghề nghiệp
Nghề ngiệp
|
Số lượng
|
Tỉ lệ %
|
Làm việc
ngoài trời
|
34
|
97,1 %
|
Làm việc
trong nhà
|
1
|
2,9 %
|
Tổng cộng
|
35
|
100 %
|
Theo nhóm tác giả Randle HW (1993) [9] thì hầu hết những bệnh nhân bị ung thư tế bào
đáy điều làm việc ngoài trời.
Như vậy, chúng tôi
gặp hầu hết là bệnh nhân bị ung thư da có liên đến nghề nghiệp của họ mà đặc biệt
là ánh nắng mặt trời. Phải chăng, do dân số Việt Nam ta người là nông nghiệp
chiếm 80% so với các nghề khác. Người nông dân thường làm việc ngoài trời tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời nhiều hơn so với các nghề nghiệp khác.
3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TRƯỚC KHI PHẪU THUẬT
3.2.1. Vị trí
tổn thương
Bảng 3.4. Phân bố theo vị trí
tổn thương
Vị trí tổn
thương
|
Số tổn thương
|
Tỉ lệ %
|
Vùng thái
dương
|
7
|
13,7 %
|
Vùng má
|
18
|
35,3 %
|
Vùng mũi
|
8
|
15,7 %
|
Vùng môi
trên
|
5
|
9,8 %
|
Vùng trán
|
8
|
15,7 %
|
Vùng mi mắt dưới
|
4
|
7,8 %
|
Vùng tai
|
1
|
2,0 %
|
Tổng cộng
|
51
|
100 %
|
Theo nhóm tác giả Nicole WJ
Smeets, Gertruud AM Krekel[10], đã nghiên cứu phẫu thuật
Mohs cho ung thư da ở vùng mặt thì gặp tỉ lệ bệnh nhân bị ung thư tế bào đáy
vùng má cũng chỉ chiếm tỉ lệ thấp (8%), vùng mũi chiếm tỉ lệ cao (30%) và vùng
thái dương cũng chiếm tỉ lệ cao (32%)
Như vậy,
theo nghiên cứu của chúng tôi thì ung thư tế bào đáy thường gặp ở vùng má. Tuy
nhiên, các tác giả nước ngoài thì gặp nhiều ở vùng mũi hơn vùng má, đặc biệt là
trên người da trắng.
3.2.2. Kích
thước tổn thương
Bảng 3.3. Phân bố theo kích thước tổn thương
Kích thước
tổn thương
|
Số lượng
|
Tỉ lệ %
|
Dưới 1,5
cm2
|
4
|
11,4 %
|
Từ
1,5->3,5 cm2
|
16
|
45,7 %
|
Trên 3,5
cm2
|
15
|
42,9 %
|
Tổng cộng
|
35
|
100 %
|
Những tổn thương có diện tích dưới 1,5 cm2 thì
khả năng tạo hình bằng các vạt da tại chỗ để che lấp khuyết hổng là rất dễ thực
hiện hơn so với khối u có kích thước lớn hơn. Những khối u có diện tích tổn
thương từ 1,5->3,5 cm2 nếu ở vùng má, vùng trán hay vùng thái
dương thì phẫu thuật tạo hình bằng xoay vạt da cũng dễ thực hiện, tuy nhiên nếu
ở vùng môi trên, vùng mũi hay vùng mi mắt, khả năng tạo hình cũng hết sức phức
tạo, phải tính toán rất kỹ sao cho đủ chất liệu tạo hình sau khi phẫu thuật cắt
bỏ. Hơn nữa, khả năng phẫu thuật tạo hình này còn phụ thuộc vào độ chun giãn
của da, da có chùn nhiều không, bệnh nhân trẻ hay lớn tuổi. Thường thì bệnh
nhân lớn tuổi da sẽ chùn nhiều rất dễ để phẫu thuật tạo hình bằng vạt da tại
chỗ
3.2.3. Mức độ
xâm lấn
Bảng 3.4. Phân bố theo mức độ xâm lấn tại chỗ
Mức độ xâm
lấn
|
Số lượng
|
Tỉ lệ %
|
Da đơn
thuần
|
25
|
71 %
|
Xâm lấn
vào tổ chức dưới da
|
10
|
29 %
|
Tổng cộng
|
35
|
100 %
|
Theo nhóm tác giả Inselvini E, Betti R
(1993) [9], những
bệnh nhân bị ung thư tế bào đáy có xâm lấn vào tổ chức xung quanh chiếm tỉ lệ
cao tới 35%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức độ xâm lấn
chiếm tỉ lệ thấp hơn nhóm tác giả Inselvini, có thể chúng tôi nghiên cứu với số
lượng bệnh nhân ít hơn nên khả năng cũng ít chính xác hơn. Những tổn thương mà
có xâm lấn xuống tổ chức dưới da như cơ vòng miệng, cơ vòng mắt hay các tổ chức
khác thì khả năng tái phát cũng sẽ cao hơn và quá trình phẫu thuật tạo hình
cũng đòi hỏi kỹ năng phức tạp hơn.
3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
3.3.1.Phương pháp phẫu
thuật tạo hình
Bảng 3.5. Phân bố theo phương pháp phẫu thuật tạo hình
Phương
pháp phẫu thuật
|
Số lượng
|
Tỉ lệ %
|
Bóc tách
hai mép tổn thương
|
9
|
25,7 %
|
Vạt xoay
|
16
|
45,7 %
|
Vạt V-Y
|
3
|
8,6 %
|
Vạt trán
|
1
|
2,9 %
|
Vạt chư U
|
1
|
2,9 %
|
Vạt Imre
|
5
|
14,3 %
|
Tổng cộng
|
35
|
100 %
|
Chúng tôi phẫu thuật tạo hình sau cắt bỏ tổ chức ung thư tế
bào đáy chủ yếu sử dụng phương pháp tạo hình bằng vạt da xoay tại chỗ. Vạt xoay
tại chỗ là vạt tương đối dễ thiết kế và tạo hình để che phủ chỗ khuyết da. Đối
với những trường hợp phẫu thuật tạo hình vùng mặt thì việc xoay vạt luôn phải
được chú ý, làm sao tạo vạt da có đủ sức căng, kéo theo chiều ngang. Vạt da tại
chỗ là một chất liệu tạo hình đã được biết từ lâu trong phẫu thuật tạo hình. Có
rất nhiều loại vạt da khác nhau với các thay đổi về vị trí, hình dáng, kích
thước cũng như kỹ thuật lấy vạt, đã được mô tả bỡi các nhà phẫu thuật tạo hình
nổi tiếng trong nước và trên thế giới.
3.3.2. Độ sống của vạt
Bảng 3.6. Phân bố theo độ sống của vạt
Độ sống của vạt
|
Số lượng
|
Tỉ lệ %
|
Sống hoàn
toàn
|
33
|
94,3 %
|
Hoại tử
< 1/3 vạt
|
2
|
5,7 %
|
Hoại tử
> 1/3 vạt
|
0
|
0 %
|
Tổng cộng
|
35
|
100 %
|
Chỉ có 2 trường hợp ngay sau phẫu thuật thì có hoại tử nhẹ
vùng đầu của vạt da, có thể là do chúng tôi khâu da bị căng. Tuy nhiên, sau đó
thì khả năng tự tái tạo của da, cũng như khả năng giãn da thứ phát. Thường thì
vạt da sau khi bóc tách xong bao giờ chúng tôi phải ướm thử trước khi đón kín
vết mổ. Đánh giá lại độ căng của da, nếu vạt da thử căng vừa phải thì chúng tôi
đóng kín vết mổ, nếu thử quá căng thì phải tiếp tục bóc tách thêm sao cho độ
căng vừa đủ thì mới tiếp tục đóng kín vết mổ.
3.3.3. Khả năng tái phát sau 1 năm phẫu thuật
Bảng 3.7. Phân bố theo khả năng tái phát sau 1 năm
Tái phát sau 1 năm
|
Chưa phát hiện tái phát
|
|
Vùng thái
dương
|
7
|
|
Vùng má
|
18
|
|
Vùng mũi
|
1
|
7
|
Vùng môi
trên
|
2
|
3
|
Vùng trán
|
8
|
|
Vùng mi mắt dưới
|
1
|
3
|
Vùng tai
|
1
|
|
Tổng cộng
|
4
|
47
|
Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ tái phát cao.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi bước đầu áp dụng kỹ thuật phẫu thuật ung thư da
nên khả năng tái phát sau khi đã điều trị vẫn còn cao. Tuy nhiên, chúng tôi
nhận thấy là tái phát sau phẫu thuật ung thư tế bào đáy chủ yếu là vùng môi
trên, vùng mũi và vùng mi mắt dưới. Có khả năng ở những vùng này, tổ chức cơ
nằm sát dưới da, lại ít mô đệm bên dưới nên khả năng các tế bào ung thư xâm
nhập vào các cơ này là rất lớn, khi phẫu thuật cắt bỏ tổ chức ung thư không thể
triệt để được.
KẾT LUẬN
1. Về đặc điểm chung
Hầu hết những bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều có tuổi
trên 50, họ chủ yếu làm việc ngoài trời.
2. Về đặc điểm lâm sàng trước
khi phẫu thuật
Bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có vị trí tổn thương ở vùng
má (35,3%), kích thước tổn thương trên 1,5 cm2 (88,6%), mức độ xâm
lấn tại chỗ (29%).
3. Về kết quả
phẫu thuật
Tất cả những bệnh nhân ung
thư tế bào đáy được phẫu thuật tạo hình bằng các vạt da tại chỗ đều có kết quả
tốt hơn so với trước khi phẫu thuật.
Phương pháp phẫu thuật tạo
hình bằng vạt da xoay tại chỗ (45,7%), vạt da sống hoàn toàn sau phẫu thuật
(94,3%) , khả năng tái phát sau 1 năm phẫu thuật (8,3%).
Phẫu thuật cắt bỏ tổ chức ung
thư tế bào đáy ở vùng mặt sau đó tạo hình bằng các vạt da tại chỗ là một phẫu
thuật mang lại kết quả rất khả quan trên bệnh nhân ung thư da đặc biệt là ung
thư tế bào đáy. Sau mỗ, tình trạng bệnh nhân cải thiện rõ các triệu chứng lâm
sàng so với trước mổ, trả lại chức năng sinh lí của da, có hiệu quả về thẩm mỹ
cao.
Phẫu thuật dùng các vạt da
tại chỗ vùng mặt sau khi cắt bỏ tổ chức ung thư là một phẫu thuật được lựa chọn
cao hơn các kỹ thuật khác như vá da hay để tự liền sẹo. Đây là một kỹ thuật lựa
chọn vì nó hiệu quả hơn và thẩm mỹ hơn.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
II. Tài liệu tiếng Anh
12. Reinert
S Machtens E (2003). Surgical treatment
of far advanced basall cell carcinomas of the scalp and the orbit involving the
skull and dura. Blackwell Publishing.
14. Serkan Yidirim, Tayfun Akoz, Mithat Akan và Gulden Avci
(2001). Nasolabial V-Y advancement for
closure of the Midface defects. Blackwell Publishing.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét